Tác động của các biến động địa chính trị đối với kinh tế Việt Nam - Giải pháp giúp doanh nghiệp thích ứng, nâng cao năng lực chống chịu và tận dụng các cơ hội mới trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động
Trong bối cảnh
kinh tế thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp do căng thẳng
địa chính trị gia tăng, xu hướng bảo hộ thương mại, gián đoạn chuỗi cung ứng và
biến động mạnh của các thị trường năng lượng, tài chính..., cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới trong quá trình duy
trì sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngày 26 tháng
3 năm 2026, Báo Người Lao Động tổ chức Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần 1/2026 với
chủ đề: “Doanh nghiệp trước cú sốc địa chính trị toàn cầu: Ứng phó thế nào?”. Thông
qua các tham luận, trao đổi và thảo luận tại diễn đàn, chương trình đã góp phần
làm rõ những tác động của các biến động địa chính trị đối với kinh tế Việt Nam;
đồng thời, đề xuất các giải pháp giúp doanh nghiệp chủ động thích ứng, nâng cao
năng lực chống chịu và tận dụng các cơ hội mới trong bối cảnh kinh tế toàn cầu
nhiều biến động.
Diễn giả chính tham dự Diễn đàn. Ảnh Lê Dũ Thanh.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần 1/2026 với chủ đề: “Doanh nghiệp trước cú
sốc địa chính trị toàn cầu: Ứng phó thế nào?” có sự tham dự của đại diện các
bộ, ngành trung ương; lãnh đạo địa phương; các chuyên gia kinh tế, các tham tán
thương mại; lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp; cùng đông đảo doanh nhân và đại
diện cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Về phía thành phố Cần Thơ, Ông Nguyễn Văn Bền - Phó Giám đốc Sở Tài chính
thành phố Cần Thơ, cho biết:
Hiện nay, tỉ lệ đăng ký doanh nghiệp tại thành
phố Cần Thơ đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm 2025. Để đạt
được kết quả này, ngay từ giai đoạn đầu thành lập, thành phố Cần Thơ đã chủ
động xây dựng các đề án hỗ trợ cụ thể, sử dụng nguồn kinh phí nhà nước để hỗ
trợ doanh nghiệp về mã số thuế, chi phí thuê kế toán cũng như các thủ tục hành
chính liên quan,...
Ông Nguyễn Văn Bền - Phó Giám đốc Sở Tài chính tham luận tại Diễn đàn. Ảnh Lê Dũ Thanh.
Không chỉ dừng lại ở đó, thành phố Cần Thơ còn đặc biệt chú trọng việc
kết nối các hợp tác xã với doanh nghiệp nhằm tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá
trị, nhất là trong các lĩnh vực lúa gạo, chăn nuôi và thủy sản. Các hình thức
hỗ trợ được triển khai khá đa dạng, bao gồm xây dựng nhà kho và hỗ trợ chi phí
kết nối doanh nghiệp và nông dân,... Bên cạnh đó, thành phố cũng dành nguồn vốn
đầu tư công để hỗ trợ các doanh nghiệp có dự án đủ điều kiện theo danh mục đã
được phê duyệt.
Song song với các giải pháp trên, thành phố Cần Thơ đang triển khai đồng
bộ các kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của
Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân cùng
với các nghị định hướng dẫn của Chính phủ, nhằm bảo đảm việc hỗ trợ doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, về cơ chế đặc thù, do thành phố Cần Thơ đã sáp nhập với tỉnh Hậu
Giang và tỉnh Sóc Trăng, Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11 tháng 01 năm 2022 của
Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần
Thơ trước đây không còn phù hợp với bối cảnh mới. Vì vậy, thành phố đang trình
các cấp có thẩm quyền xem xét xây dựng một Nghị quyết thay thế, hướng tới thiết
lập cơ chế đặc thù mới, trong đó có những chính sách mạnh mẽ hơn nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp phát triển.
Từ thực tiễn triển khai, Ông Nguyễn Văn Bền - Phó Giám đốc Sở Tài chính
thành phố Cần Thơ đưa ra một số kiến nghị chính gửi tới Trung ương và Quốc hội,
bao gồm: Thứ nhất, về vốn cần có chính sách ưu đãi để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư
vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi và thủy sản; Thứ hai, về liên
kết thúc đẩy tiêu thụ nông sản cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp ký kết
hợp đồng dài hạn với người dân nhằm ổn định đầu ra và chia sẻ rủi ro trong sản xuất,...
Không chỉ nhận được ý kiến trao đổi từ phía thành phố Cần Thơ, Diễn đàn còn
nhận được nhiều ý kiến trao đổi, phân tích và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhà
quản lý, chuyên gia kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp về các giải pháp ứng phó
hiệu quả với những biến động của môi trường kinh tế toàn cầu.
Một số rủi ro được nhận diện
Những cú sốc địa chính trị thời gian qua liên tiếp xuất hiện, và hiện tại
tâm điểm là chiến sự tại Trung Đông cường độ xung đột tăng và thời gian kéo
dài. Đặc biệt, tắc nghẽn tại eo biển Hormuz – tuyến vận tải năng lượng
quan trọng của thế giới đã kéo theo hệ lụy lớn đối với nguồn cung năng lượng,
vận tải và logistics toàn cầu.
Nhưng khó khăn của kinh tế toàn cầu đang đối mặt không chỉ xuất hiện khi
xung đột Trung Đông bùng phát. Ngay từ đầu năm, giai đoạn 2023–2026 đã được dự
báo là thời kỳ tăng trưởng chậm lại, đi kèm với rủi ro địa chính trị gia tăng.
Thị trường tài chính quốc tế cũng chưa ổn định, thể hiện qua áp lực: lạm phát
do chi phí đẩy; áp lực về tỉ giá và lãi suất; áp lực lên tăng trưởng GDP; áp
lực lên ngân sách, tài chính; cùng với đó là sức mua suy giảm và tâm lý tiêu
dùng thận trọng đã manh nha từ sớm. Những yếu tố này đặt ra nhiều vấn đề cần
được giải quyết.
Hiện Việt Nam nằm trong nhóm 8 quốc gia có quan hệ thương mại lớn nhất
với Mỹ và đứng thứ 3 về thặng dư xuất khẩu, chỉ sau Trung Quốc và Mexico. Cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cũng đang chuyển dịch rõ nét, từ
các mặt hàng tiêu dùng truyền thống sang nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế
tạo có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như điện tử, máy móc, thiết
bị. Tuy nhiên, bối cảnh chính sách tại Mỹ đang thay đổi nhanh. Chính quyền nước
này đẩy mạnh định hướng “nước Mỹ trên hết”, thúc đẩy đưa sản xuất quay trở lại
nội địa và gia tăng các rào cản thương mại. Đáng chú ý là các rào cản phi
thuế quan và kỹ thuật ngày càng khắt khe, như quy định về chống đánh bắt bất
hợp pháp (IUU), lao động cưỡng bức, truy xuất nguồn gốc, hay các tiêu chuẩn bảo
vệ môi trường và động vật biển. Điều này đang gây áp lực lớn lên ngành thủy
sản, dệt may, da giày của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng là một trong những
quốc gia thường xuyên bị Mỹ điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt với các mặt
hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản xuất nội địa
Mỹ...

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Diễn đàn. Ảnh Lê Dũ
Thanh.
Các giải pháp được đề xuất
- Về phía doanh nghiệp:
+ Thứ nhất, cần chủ động tìm phương án vận chuyển thay thế, đồng thời
chuẩn bị cho khả năng thời gian giao hàng kéo dài, chi phí nhiên liệu tăng và
nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz.
+ Thứ hai, chủ động nâng cao năng lực bảo đảm nguồn cung, xây dựng các
kịch bản dự phòng, rà soát và bổ sung đầy đủ các điều khoản bất khả kháng trong
hợp đồng, quy định rõ trách nhiệm pháp lý liên quan đến chậm giao hoặc không
giao hàng, cũng như các chi phí phát sinh và nâng mức bảo hiểm hàng hóa để hạn
chế rủi ro trong bối cảnh khu vực còn nhiều bất ổn. Quan trọng là giữ khách
hàng, bảo toàn chuỗi cung ứng, không bỏ qua đơn hàng, kể cả nhỏ.
+ Thứ ba, tập trung cắt giảm chi phí, quản trị dòng tiền chặt chẽ, kiểm
soát tồn kho và duy trì công suất, lao động sản xuất nhằm đảm bảo năng lực phục
hồi khi thị trường cải thiện.
+ Thứ tư, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nguồn lực thông qua đa dạng hóa
nguồn hàng và thị trường, tránh phụ thuộc quá lớn vào các thị trường truyền
thống như Mỹ và châu Âu, thay vào đó chú trọng thị trường châu Á và khai thác thị
trường nội địa hơn 100 triệu dân.
+ Thứ năm, đầu tư vào công nghệ và tương lai với quan điểm "trong
nguy có cơ", mạnh dạn đầu tư vào máy móc tiên tiến, đặc biệt là công nghệ
AI để quản trị tồn kho và dòng tiền.
+ Thứ sáu, tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ để phát triển bền vững
và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh – đây là yêu cầu bắt buộc để vượt qua các rào
cản thương mại. Doanh nghiệp cần đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã
hội, quản trị), hướng tới mục tiêu Net Zero, đồng thời tuân thủ các quy định về
truy xuất nguồn gốc, mã vùng trồng tại các thị trường khắt khe như châu Âu cũng
như các thị trường lân cận như Trung Quốc, Nhật Bản.
+ Thứ bảy, cần duy trì liên lạc thường xuyên với đối tác tại Ả Rập Saudi;
đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong nước và các cơ
quan đại diện tại Trung Đông để cập nhật thông tin và xử lý kịp thời tình huống
phát sinh...
- Về phía Nhà nước:
+ Thứ nhất, tiếp tục cung cấp thông tin thị trường chuyên sâu, cảnh báo
sớm các vụ việc phòng vệ thương mại, đồng thời đẩy mạnh đàm phán với Mỹ nhằm
xây dựng khung pháp lý ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo cao cho doanh
nghiệp.
+ Thứ hai, tiếp tục tháo gỡ về thuế, phí để hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là
khu vực vừa và nhỏ nhằm trực tiếp chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô – đặc biệt là tỉ giá, lãi suất, thanh khoản và kiểm soát
giá xăng dầu hỗ trợ bình ổn giá tránh hiệu ứng lan tỏa. Tuy nhiên, việc sử
dụng chính sách cần linh hoạt, tránh lạm dụng.
+ Thứ ba, đẩy mạnh công tác quản lý thị trường, tăng cường chống buôn
lậu, đầu cơ và tình trạng "tát nước theo mưa", qua đó bảo vệ người
tiêu dùng và môi trường kinh doanh.
+ Thứ tư, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể tăng tốc, với kỳ vọng
từ quý III sẽ bứt phá và vượt lên, giải phóng các nguồn lực nhà nước, tạo điều
kiện cho khu vực tư nhân tham gia để bắt nhịp và tăng tốc trong thời gian tới.
+ Thứ năm, tiếp tục chuyển đổi tư duy từ "chính quyền quản lý"
sang "chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp", nhằm hướng tới mục
tiêu phát triển kinh tế hai con số và phát huy các nghị quyết khẳng định vai
trò của kinh tế tư nhân, trong đó cần có thêm những chính sách tương tự Nghị
quyết 68-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị, xác định kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng của nền kinh tế, tăng cường hỗ trợ thích ứng với các tiêu chuẩn
xanh toàn cầu để duy trì năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
+ Thứ sáu, cần hội nhập sâu, chọn lọc "luật chơi" để bảo vệ lợi
ích quốc gia và kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại chính trị với đối ngoại kinh tế
nhằm tranh thủ vốn và công nghệ...